Tượng Phật Thích Ca - TPTC301

Giá thị trường:

5,000,000 vnđ

Nhãn hiệu:

Xuất xứ: Gia Lai/Dak Lak

Mô tả:

Tượng Phật Thích Ca

MSP: TPTC301

Gỗ Hương ta (Gỗ mỹ nghệ Gia Lai)

Cao 30 rộng 18 ( hàng độc )  

Số lượng mua hàng:

ĐẶT HÀNG NGAY

Lượt khách đã đặt hàng:224

THÊM VÀO GIỎ HÀNG

Lượt khách đã xem: 397

Tượng Phật Thích Ca

Thích-ca Mâu-ni
 
Lịch sử Thích-ca Mâu-ni sinh năm 563 TCN nhưng cũng có thuyết nói sinh năm 624 TCN, con trai của một tiểu vương thuộc dòng họ Thích-ca, ngày nay thuộc nước Nepal, gần Hi-mã-lạp sơn. Tên thật của vị này là Tất-đạt-đa, thuộc họ Cồ-đàm, vì vậy cũng có người gọi vị Phật này là Phật Cồ-đàm. Sau quá trình tu hành đạt đạo, Phật này mang danh hiệu Thích-ca Mâu-ni nghĩa là Trí giả trầm lặng của dòng Thích-ca (danh từ tiếng Phạn muni chỉ một trí giả, đặc biệt là trí giả trầm mặc;tĩnh mặc). Khi muốn phân biệt vị Phật lịch sử này với Phật tính (xem bên dưới), người ta gọi rõ tên là Phật Thích-ca.
 
Phật có ba nghĩa
 
Phật, tiếng Phạn nói đủ là Phật Đà, Trung Hoa dịch là Giác. Giác có ba nghĩa:
 
1. Tự giác: Như người tỉnh thức sau giấc mộng dài (đại mộng). Đây là vượt hơn phàm phu.
 
2. Giác tha: Đã vượt hơn Nhị thừa, vì Nhị thừa chú trọng cho mình nhiều hơn, không có tâm lợi tha, chỉ mong tự lợi, nên gấp ra khỏi sanh tử ba cõi. Còn Phật Như Lai chứng đắc bình đẳng trí, được pháp tánh không, vận tâm vô duyên từ vào cảnh giới ma, độ khắp chúng sanh, khiến họ an vui, nên gọi là Giác tha.
 
3. Giác hạnh viên mãn: Khác hơn Bồ Tát, vì hàng Bồ Tát tuy khởi lòng từ độ khắp chúng sanh nhưng giác hạnh chưa được viên mãn, chỉ có Phật, tâm cảnh đều lìa, Căn bản trí được hiển lộ toàn vẹn, Ngũ trụ phiền não đã tận diệt, hai thứ sanh tử không còn, ba giác đã trọn, muôn đức đã đủ, đầy đủ mười hiệu, nay chỉ nên một hiệu là Như Lai thì mười hiệu đồng bày.
 
Ba đời chư Phật đã nói Pháp này; ba đời đó là quá khứ, hiện tại và vị lai. Đức Xá Na tuy nói rằng: Chừng đầu mảy lông nhưng thực ra ba đời chư Phật cùng thuyết, ba đời Bồ Tát cùng học, vì sao vậy? Vì tâm là nguồn gốc của muôn pháp. Nêu tâm thì muôn pháp đều đủ, nên Chư Phật đồng thuyết, Đại sĩ đồng học. Theo kinh Phạm võng
 
Ý nghĩa của từ Phật có thể được hiểu là: vị Phật lịch sử Thích-ca Mâu-ni, một Bậc giác ngộ, Phật tính, hoặc Thể tính tuyệt đối Bất khả tư nghị.
DANH HIỆU
Thích Ca Trung Hoa dịch là Năng Nhân. Mâu Ni dịch là Tịch Mặc, nghĩa là người hay phát khởi lòng nhân mà tâm hồn luôn luôn yên tĩnh
LƯỢC SỬ
Trước đây trên 25 thế kỷ, ở Ấn Độ có vị Thánh xuất thế, đó là đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Khi ấy xã hội Ấn Độ chia làm 4 đẳng cấp : Bà-la-môn (Barhmanes), Sát-đế-lỵ (kastryas), Phệ-xá (Vaisyas) và Thủ-đà (Soudas), đức Phật Thích Ca sanh trong dòng quý tộc thuộc đẳng cấp thứ 2. Thân sinh ngài là vua Tịnh Phạm (Suddodhana) và than mẫu là hoàng hậu Ma-gia (Maya), ở thành Ca-tỳ-la (Kapilavatsu). Ngài giáng sanh vào ngày trăng tròn, tháng 2 Ấn Độ, nhằm ngày mùng 8 tháng 4 âm lịch Trung Hoa. Tên ngài Sĩ-đạt-ta (Sidhartha). Ra đời chưa đầy một tháng, ngài đã mồ côi mẹ, nhờ di mẫu nuôi dưỡng cho đến trưởng thành. Năm 19 tuổi ngài trốn vua cha vượt thành xuất gia tầm thầy hoc đạo. tương truyền trước khi xuất gia, ngài đã dạo chơi bốn cửa thành thấy cảnh sanh, già, bệnh, chết. từ đó ngài ôm lòng thương cảm vô hạn, quyết tìm con đường giải thoát cho mình và tất cả chúng sanh. Vì thế ngài cương quyết ruồng bỏ ngai vàng và mọi lạc thú ở đời, xuất gia tầm đạo, mặc dầu có lắm người hết lời khuyên nhủ can ngăn.
Sau khi xuất gia ngài lê bước khắp nơi tìm thầy học đạo. ngài đã từng tham học với hai vị sư trứ danh đương thời la A-la-lã-ca-lan (Arlah-kalama) và Uất-đà-già-la-ma (Udraka-kamapu-tar). Nhưng xét đến kết quả đạo lý của họ đều không làm cho ngài thỏa mãn. Sau đó ngài từ giã họ vào rừng sâu tu khổ hạnh sáu năm, mỗi ngày chỉ ăn uống chút ít đủ duy trì mạng sống, nhưng rốt cuộc cũng chẳng đem lại kết quả gì. Cuối cùng nhận thấy phương pháp khổ hạnh không phải là con đường chân chánh, ngài liền từ bỏ nó, trở lại lối sống bình thường, vận dụng tâm trí quán sát tướng chân thật của vũ trụ. Một hôm ngày thứ 49 ở dưới cội Bồ-đề, ngài bừng ngộ thấy rõ chân lý của cuộc đời, biết được mọi người đều có đủ khả năng giác ngộ và giải thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi.Sau khi đã chứng đạo, ngài không ấp ủ tư lợi riêng mình, liền nhập thế phổ độ chúng sanh. Từ đó ngài du hành thuyết pháp suốt 49 năm, chu du đến 1/3 xứ Ấn Độ. Những môn đồ được ngài giáo hóa đông vô kể. Nơi ngài thường đến và thường lưu trú là thành Vương Xá (Rajagrha) nước Ma-kiệt-đà (Magadha), thành Phệ-xá-ly (Vesali), thành Xá-vệ (Shavasti) nước Câu-tát-la (kosala). Năm 80 tuổi nơi rừng Ta-la song thọ (sala) ngoài thành Câu-thi (Kusin-agara), sau buổi thuyết pháp cuối cùng, ngài vào Niết-bàn (Nibbna)
BIỂU TƯỚNG
Vào trong các chùa Phật giáo Bắc Tông, ngay giữa chánh điện hoặc thờ một tượng Phật Thích Ca, hoặc thờ ba tượng ngồi ngang, đức Thích Ca ngự giữa, bên phải đức Phật  Thích Ca là Phật A Di Đà, bên trái là Phật Di Lặc (Phật tương lai). Lối thờ này tượng trưng tam thế Phật, Phật Thích Ca là Phật hiện tại, Phật Di Đà là Phật quá khứ, Phật Di Lặc là Phật tương lai. Bất cứ lối thờ nào, đức Phật Thích Ca đều ngự ở giữa, nên cũng gọi ngài là đức Trung Tôn.
Tượng Phật Thích Ca không giống người Ấn Độ, mà tùy ở nước nào tạo tượng ngài giống người nước ấy. Ngài ngự trên đài sen, hai tay để ấn tam muội, đôi mắt khép ¾.
THÂM Ý
Nhìn sơ qua hình tượng đức Phật Thích Ca, chúng ta đã thấy những điểm cách xa thực tế. Tại sao người ta không tạo tượng ngài thật giống người Ấn Độ, ngồi trên tòa cỏ dưới cội cây Bồ Đề ?
Bởi vì Bắc Tông Phật giáo quan niệm đức Phật không phải căn cứ vào con người xác thịt tầm thường, mà thấy Phật là Pháp thân thường trụ. Hiện thân Thái Tử Sĩ-đạt-ta tu hành thành Phật, chỉ là một giai đoạn, một hóa thân tùy cơ cảm của chúng sanh thị hiện đấy thôi. Đã là hóa thân tùy cơ cảm thì đức Phật đều ứng hiện như nguyện để độ họ. Vì thế ở Việt Nam cảm mộ Phật, Phật sẽ thị hiện người Việt Nam, ở Trung Hoa cảm mộ Phật, Phật sẽ hiện người Trung Hoa để hóa  độ… Đó là tư tưởng siêu thực, không còn thấy Phật ở trong một hình thức cố đinh nào. Đức Phật đã đồng hóa theo từng dân tộc, từng chủng loại. Do tư tưởng này, Bắc Tông Phật giáo đối với đúc Phật không thấy xa lạ, mà rất gần gũi thân mật và phát sanh tín ngưỡng “Phật tùy tâm hiện ”. Ta nghe vị Quốc Sư núi Yên Tử nói với vua Trần Thái Tông, khi ông này lên núi cầu đạo :
“Núi vốn không có Phật, chỉ có ở tâm. Lắng tâm mà thấy, đây gọi là chân Phật. Nay bệ hạ muốn giác ngộ tâm ấy thì đứng ở trần gian mà thành Phật, không phải khốn khổ cầu tìm Phật ở ngoài ”(Khóa Hư Lục).
Đã tin Phật tùy tâm hiện, nếu tâm mình tưởng Phật tức là có Phật hiện đến. Do đó phát sanh tín ngưỡng “Phật hiện cứu độ mọi người”. cho nên những khi lâm tai mắc họa, người ta hay thành kính lễ mễ cầu Phật hiện  mách bảo cho phương cách thoát khỏi tai họa.
Phật ngự trên đài sen cũng là một ý nghĩa tượng trung cho siêu thực. Bởi vì hoa sen được biểu thị cho đức tánh thanh tịnh giải thoát. Hoa sen phát xuất trong vũng bùn nhơ nhớp, mà vẫn tỏa ra mùi hương thanh khiết. Đó là đặc tính không thể tìm được trong loài hoa khác. nằm giữa vũng bùn nhơ nhớp, mà không bị lây mùi hôi hám, trái lại còn đầy đủ hương vị thơm tho, đó mới thật là thanh tịnh. Vì cái thanh tịnh ngay giữa bãi cát trắng phau, hay trên gò đất khô sạch sẽ, dầu có hương sắc gấp mấy lần hơn vẫn không được quý trọng. Bởi nó chui từ vũng bùn hôi hám mà lên, lại giữ được tánh cách thanh khiết, nên mới được mọi người hâm mộ. Đức Phật cũng thế, trước kia ngài cũng là một con người như chúng ta, cũng có gia đình, cũng hưởng giầu sang sung sướng, nhưng con người ấy không bị dục lạc làm ô nhiễm, không bị sợi dây gia đình trói buộc. Ở trong cảnh nhiễm ô dục lạc mà tâm hồn ngài trinh bạch, ngồi trong tù ngục gia đình mà chí ngài vượt ra ngoài vũ trụ mênh mông. Đức tánh trinh bạch và siêu việt ấy, chỉ có hoa sen mới đủ sức tượng trưng.
 Bắc Tông Phật giáo đặt trọng ý nghĩa “thanh tịnh trong ô nhiễm ”nên chủ trương “phiền não tức bồ đề ”, “sanh tử tức Niết-bàn”. Không thể tìm Bồ-đề ngoài phiền não, không thể có Niết-bàn ngoài sanh tử. Cứ ngay trong phiền não chúng ta khéo chuyển sẽ thành Bồ-đề, trong sanh tử khéo chuyển sẽ thành Niết-bàn. Không chán sợ trón tránh, không mơ ước mong cầu nơi nào khác. Vì thế đi đến chủ trương “tích cực nhập thế”. Đôi mắt đức Phật đăm chiêu nhìn xuống là biểu thị quán sát nội tâm. Giáo lý Phật dậy là giáo lý nội quan luôn luôn phản chiếu nội tâm để tự giác ngộ. Tâm mình là chủ nhân ông của mọi hành động, mọi nghiệp quả. Ngộ được tự tâm là thấy được nguồn gốc vũ trụ và nhân sanh. Vì thế Phật giáo chủ trương con người làm chủ mọi quả báo an lạc hay đau khổ của mình. Muốn tránh quả khổ đau, cầu quả an lạc, con người phải tự sửa đổi hành vi trong tâm niệm mà hành động nơi tự thân mình. Một tâm niệm lành một hành động tốt sẽ đến cho ta kết quả an vui hạnh phúc. Ngược lại một tâm niệm ác, một hành động xấu sẽ chuốc lấy kết quả khổ đau về nơi mình. Chỉ có ta mới đủ thẩm quyền ban phúc giáng họa cho ta. Sự cầu cạnh sự van xin nơi tha nhân hay thần linh, nếu có chỉ là phần phụ thuộc không đáng kể. Cho nên ta phải quán sát lại ta, để luyện lọc tâm tánh và sửa đổi hành động của mình. Ách yếu của sự tu hành là phản quán tự tâm .Vua Trần Nhân Tông hỏi về bổn phận, tông chỉ của Thiền, Tuệ Trung Thượng Sĩ đáp :
“Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc” (Tam Tổ Thực Lục), (soi lại nơi mình là việc bổn phận, không từ nơi người mà được). Những phút sống lại nội tâm đương nhiên đôi mắt đăm chiêu nhìn xuống như khi chúng ta muốn kiểm soát lại tâm tư hay hành đọng của mình, dù đi, đứng,  ngồi đôi mắt chúng ta nhất định phải nhìn xuống. Khi chúng ta muốn van xin điều gì với những người đáng kính bên ngoài dĩ nhiên đôi mắt phải trông lên vị ấy. Vì thế khi nhìn lên đôi mắt đức Phật, đôi mắt các vị Thánh của tôn giáo khác, chúng ta có thể nhận biết tôn giáo nào chủ trương nội quan, tôn giáo nào chủ trương ngoại quan. 
Trên đảnh đức Thích Ca có cục thịt nổi cao gọi là nhục kế (cục thịt đỏ), đẻ biểu thị cho trí tuệ tuyệt vời. Theo các kinh Pháp hoa, Hoa Nghiêm… trên đảnh đức Phật có tướng không thể thấy, tướng ấy bậc Bồ-tát từ sơ địa trở lên chỉ thấy được đôi phần, trừ Phật với Phật mới thấy trọn vẹn. Tướng ấy biểu thị cho Pháp Thân vì chúng sanh không thể thấy nên gọi là “vô kiến đảnh tướng”.
Chung quanh tượng Phật có những hào tia quang sang chiếu để tiêu biểu ánh sang trí tuệ của Phật lúc nào cũng soi sang thế gian. Theo trong kinh nói chung quanh đức Phật luôn luôn có hào quang soi sáng một tầm. Bởi vì con người luôn luôn có một lớp nghiệp bao quanh, nếu nghiệp ác thì hiện lên vùng hắc ám, chúng sanh trông thấy kinh sợ, nếu nghiệp thiện thì hiện ra ánh sáng trong lành,chúng sanh trông thấy sanh tâm kính mến. Vì mắt thịt chúng ta quá thô thiển nên không thể trông thấy rõ ràng, song nếu tinh tế nhận xét cũng có thể nhận biết phần nào.Như người hiền lành đến trước chúng ta nhìn thoáng gương mặt là ta có cảm tình ngay. Nếu người dữ đến trước chúng ta, nhìn sơ qua ta tự nhiên nảy sanh ác cảm liền. Cái linh cảm ấy không phải căn cứ vào hình thức, mà nó siêu hình thức. Thiết thực nhất là các anh đồ tể khi vào xóm làng bị chó theo đuổi sủa không thôi, dù họ chỉ đi tay không cũng thế. Cho nên ngày xưa các vị tu hành đắc đạo, có ai đến tham học, một phen nhìn qua là các ngài biết phước duyên kẻ ấy mỏng hay dầy, rồi tùy căn cơ giáo hóa. Đức Phật là con người thuần thiện tâm thanh tịnh, trí sáng suốt thì ánh hào quang bao bọc chung quanh là lẽ đương nhiên. 

 

Bình luận

Sản phẩm vừa xem

Xem tất cả >>
HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
  • Tư vấn đặt hàng 24/7
    Mr Hoa
    0199 355 66 68
    0888 51 56 56
    (0888 51 56 56)
SẢN PHẨM LIÊN QUAN
 
Thiết kế website